Tăng huyết áp động mạch phổi là gì? Các nghiên cứu khoa học

Tăng huyết áp động mạch phổi là tình trạng áp lực trong động mạch phổi tăng bất thường do hẹp lòng mạch và tái cấu trúc thành mạch gây tăng sức cản tuần hoàn. Bệnh được xác định khi áp lực động mạch phổi trung bình từ 20 mmHg trở lên và sức cản mạch phổi tăng, gây quá tải thất phải và giảm khả năng trao đổi oxy.

Tăng huyết áp động mạch phổi là gì?

Tăng huyết áp động mạch phổi (Pulmonary Arterial Hypertension, PAH) là một rối loạn mạn tính đặc trưng bởi sự tăng bất thường áp lực trong động mạch phổi do hẹp lòng mạch, tái cấu trúc thành mạch hoặc tăng sức cản mạch máu phổi. Tình trạng này dẫn đến tăng gánh cho thất phải, giảm oxy máu và có thể tiến triển đến suy tim phải nếu không được điều trị kịp thời. PAH thuộc nhóm tăng áp phổi, được phân loại theo tiêu chí huyết động học dựa trên đo áp lực mao mạch phổi và sức cản mạch phổi.

Theo tiêu chuẩn huyết động, PAH được chẩn đoán khi áp lực động mạch phổi trung bình (mPAP) ≥ 20 mmHg lúc nghỉ, sức cản mạch phổi (PVR) > 2 Wood Units và áp lực mao mạch phổi bít (PCWP) ≤ 15 mmHg. Đây là một bệnh lý phức tạp, liên quan đến các biến đổi phân tử như tăng sinh tế bào cơ trơn, rối loạn chức năng nội mô và viêm mạch. Thông tin cơ bản có thể tham khảo tại American Heart Association.

Phân loại lâm sàng

Tăng huyết áp động mạch phổi được chia thành nhiều nhóm dựa trên nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh, theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nhóm 1 là PAH nguyên phát hoặc liên quan đến bệnh mô liên kết, HIV, bệnh gan hoặc dị tật tim bẩm sinh. Nhóm 2 liên quan đến bệnh tim trái gây tăng áp lực dẫn truyền lên phổi. Nhóm 3 liên quan đến bệnh phổi hoặc thiếu oxy mạn tính.

Nhóm 4 bao gồm tăng áp phổi do tắc nghẽn mạch máu mãn tính, như huyết khối tắc mạch phổi mạn tính. Nhóm 5 liên quan đến các nguyên nhân không rõ ràng hoặc cơ chế đa yếu tố như bệnh máu, rối loạn chuyển hóa và bệnh toàn thân hiếm gặp. Mỗi nhóm có chiến lược điều trị và tiên lượng khác nhau.

  • Nhóm 1: PAH nguyên phát hoặc liên quan bệnh mô liên kết, HIV, thuốc độc
  • Nhóm 2: Do bệnh tim trái
  • Nhóm 3: Do bệnh phổi và thiếu oxy mạn
  • Nhóm 4: Huyết khối tắc mạch phổi mạn
  • Nhóm 5: Nguyên nhân hỗn hợp/không rõ ràng

Cơ chế bệnh sinh

Cơ chế bệnh sinh của PAH liên quan đến ba yếu tố chính: co thắt mạch, tăng sinh tế bào thành mạch và huyết khối trong lòng mạch. Rối loạn chức năng nội mô dẫn đến mất cân bằng giữa các chất giãn mạch như nitric oxide và prostacyclin, và các chất co mạch như endothelin-1, góp phần làm tăng sức cản mạch phổi. Viêm mạch và stress oxy hóa thúc đẩy quá trình tái cấu trúc thành mạch.

Các biến đổi tế bào học bao gồm tăng sinh tế bào cơ trơn, phì đại lớp áo giữa và hình thành tổn thương dạng đám rối (plexiform lesions). Điều này dẫn đến hẹp lòng mạch và giảm khả năng đàn hồi của thành mạch. Công thức mô tả sức cản mạch phổi như sau:

PVR=mPAPPCWPCOPVR = \frac{mPAP - PCWP}{CO}

Trong đó CO là cung lượng tim. Khi PVR tăng, thất phải phải hoạt động mạnh hơn để duy trì dòng máu qua phổi, gây phì đại và cuối cùng suy thất phải.

Triệu chứng và biểu hiện lâm sàng

PAH thường diễn tiến âm thầm trong giai đoạn đầu và dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn hô hấp khác. Triệu chứng thường gặp nhất là khó thở khi gắng sức, do giảm khả năng trao đổi oxy và giảm lưu lượng máu qua phổi. Mệt mỏi, chóng mặt và đau ngực có thể xuất hiện do tăng tải thất phải.

Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có phù ngoại biên, tím tái, ngất khi gắng sức và dấu hiệu suy tim phải. Khám thực thể có thể ghi nhận tiếng T2 mạnh, tiếng thổi tricuspid và sung cổ. Đánh giá triệu chứng dựa trên phân loại gắng sức của WHO giúp dự đoán tiên lượng và lựa chọn điều trị phù hợp.

Tài liệu tham khảo

  • American Heart Association. Pulmonary Hypertension Overview. Link
  • Cleveland Clinic. Pulmonary Arterial Hypertension. Link
  • European Society of Cardiology. Guidelines for Pulmonary Hypertension. Link
  • Simonneau, G., et al. (2019). Haemodynamic definitions and updated clinical classification of pulmonary hypertension. European Respiratory Journal.
  • NIH National Heart, Lung, and Blood Institute. Pulmonary Hypertension. Link

Chẩn đoán

Chẩn đoán tăng huyết áp động mạch phổi (PAH) đòi hỏi quy trình đánh giá nhiều bước để phân biệt với các dạng tăng áp phổi khác và xác định chính xác cơ chế bệnh sinh. Xét nghiệm đầu tiên thường được sử dụng là siêu âm tim Doppler, giúp ước tính áp lực động mạch phổi và đánh giá chức năng thất phải. Siêu âm tim cũng hỗ trợ phát hiện các dấu hiệu gián tiếp như giãn thất phải, giảm sức co bóp hoặc dãn động mạch phổi.

Xét nghiệm chức năng hô hấp, bao gồm đo dung tích sống và khả năng khuếch tán khí (DLCO), giúp xác định vai trò của bệnh phổi trong cơ chế tăng áp. CT scan ngực độ phân giải cao được sử dụng để khảo sát nhu mô phổi, mạch máu và cấu trúc lồng ngực. Xạ hình thông khí tưới máu (V/Q scan) là xét nghiệm quan trọng để loại trừ tăng áp phổi do tắc mạch mạn tính.

Thông tim phải (Right Heart Catheterization) được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán PAH. Xét nghiệm này đo trực tiếp mPAP, PCWP, PVR và cung lượng tim, từ đó xác định phân loại huyết động học. Để đánh giá đáp ứng điều trị, bệnh nhân có thể thực hiện test giãn mạch cấp tính với nitric oxide hoặc adenosine. Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại NIH: Pulmonary Hypertension.

Điều trị

Điều trị PAH dựa trên chiến lược cá thể hóa theo phân loại WHO và tình trạng huyết động học. Các nhóm thuốc chính bao gồm thuốc giãn mạch, thuốc ức chế endothelin, thuốc kích hoạt nitric oxide và thuốc tương tự prostacyclin. Các liệu pháp này nhằm giảm sức cản mạch phổi, cải thiện lưu thông máu và giảm tải thất phải.

Các thuốc ức chế endothelin như bosentan và ambrisentan làm giảm co mạch và tăng sinh tế bào. Nhóm thuốc PDE-5 inhibitors như sildenafil và tadalafil tăng cường tác dụng của nitric oxide, giúp cải thiện giãn mạch phổi. Các thuốc prostacyclin hoặc tương tự prostacyclin, như epoprostenol và iloprost, được dùng trong các trường hợp nặng để kiểm soát triệu chứng và cải thiện khả năng gắng sức.

Danh sách nhóm thuốc điều trị PAH:

  • Thuốc ức chế endothelin (bosentan, ambrisentan)
  • Nhóm PDE-5 inhibitors (sildenafil, tadalafil)
  • Prostacyclin và analogs (epoprostenol, treprostinil, iloprost)
  • Thuốc kích hoạt guanylate cyclase (riociguat)
  • Thuốc hỗ trợ: lợi tiểu, oxy liệu pháp, thuốc chống đông trong tắc mạch mạn

Trong trường hợp nặng, ghép phổi hoặc ghép tim-phổi có thể được xem xét. Bên cạnh điều trị thuốc, thay đổi lối sống, tập luyện có kiểm soát và tránh tiếp xúc với độ cao được khuyến nghị.

Tiên lượng

Tiên lượng của PAH phụ thuộc vào nguyên nhân, nhóm phân loại, độ nặng triệu chứng, đáp ứng điều trị và tình trạng thất phải. Bệnh tiến triển chậm nhưng liên tục nếu không được điều trị, dẫn đến nguy cơ suy tim phải và tử vong. Các yếu tố tiên lượng xấu bao gồm giảm khả năng gắng sức (đo bằng bài test đi bộ 6 phút), tăng PVR, giảm hiệu suất thất phải và thiếu đáp ứng với điều trị giãn mạch.

Nghiên cứu cho thấy việc phát hiện sớm và điều trị theo phác đồ đa mô thức giúp cải thiện đáng kể thời gian sống còn. Phân loại gắng sức WHO từ lớp I đến IV được sử dụng rộng rãi để theo dõi diễn tiến bệnh và dự đoán tiên lượng. Bệnh nhân lớp III–IV có nguy cơ cao và thường cần liệu pháp kết hợp.

Phòng ngừa và quản lý lâu dài

Mặc dù không thể ngăn ngừa hoàn toàn PAH, việc giảm thiểu các yếu tố nguy cơ và quản lý các bệnh liên quan đóng vai trò quan trọng. Những người có bệnh mô liên kết, bệnh gan hoặc tiền sử huyết khối cần được theo dõi định kỳ. Tránh tiếp xúc với hóa chất độc hại, hạn chế sử dụng thuốc gây co mạch hoặc ức chế serotonin và điều trị tích cực bệnh phổi mạn tính giúp giảm nguy cơ phát triển PAH.

Quản lý lâu dài bao gồm theo dõi huyết động định kỳ, đánh giá khả năng gắng sức, tối ưu hóa thuốc và điều chỉnh chiến lược điều trị khi bệnh tiến triển. Phục hồi chức năng hô hấp và can thiệp dinh dưỡng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống. Hợp tác đa chuyên khoa giữa tim mạch, hô hấp và hồi sức là yếu tố cần thiết để quản lý bệnh hiệu quả.

Tài liệu tham khảo

  • American Heart Association. Pulmonary Hypertension Overview. Link
  • Cleveland Clinic. Pulmonary Arterial Hypertension. Link
  • European Society of Cardiology. Guidelines for Pulmonary Hypertension. Link
  • Simonneau, G., et al. (2019). Haemodynamic definitions and updated clinical classification of pulmonary hypertension. European Respiratory Journal.
  • NIH National Heart, Lung, and Blood Institute. Pulmonary Hypertension. Link
  • Galiè, N., et al. (2016). 2015 ESC/ERS Guidelines for the diagnosis and treatment of pulmonary hypertension. European Heart Journal.

Các bài báo, nghiên cứu, công bố khoa học về chủ đề tăng huyết áp động mạch phổi:

Cholesterol Lipoprotein Độ Dày Cao trong Dịch Mạch Máu Liên Quan Đáng Kể Đến Sự Hiện Diện và Mức Độ Nghiêm Trọng của Tăng Áp Lực Động Mạch Phổi: Một Nghiên Cứu Cắt Ngành Hồi Tưởng Dịch bởi AI
Advances in Therapy - - 2020
Nghiên cứu này nhằm khám phá mối quan hệ giữa nồng độ cholesterol lipoprotein độ dày cao (HDL-C) trong huyết thanh và sự hiện diện cũng như mức độ nghiêm trọng của tăng áp lực động mạch phổi (PAH). Tổng cộng có 177 bệnh nhân mắc PAH và 103 bệnh nhân không mắc tăng áp lực phổi (PH) đã được tham gia nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân đều trải qua thủ thuật thông tim bên phải (RHC) để chẩn đoán và đánh giá... hiện toàn bộ
#cholesterol lipoprotein độ dày cao #tăng áp lực động mạch phổi #huyết thanh #dự đoán bệnh
Nhiều bất thường nội tạng bẩm sinh như một nguyên nhân hiếm gặp gây tăng huyết áp động mạch phổi Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - - 2022
Tăng huyết áp động mạch phổi (PAH) là một rối loạn hiếm gặp và tiến triển. PAH do một loạt các bệnh lý gây ra, nhưng nguyên nhân thường không xác định trong nhiều trường hợp, và bệnh nhân được phân loại vào nhóm vô căn. Trong báo cáo này, chúng tôi trình bày một người phụ nữ trẻ với các bất thường nội tạng bẩm sinh hiếm gặp dẫn đến tăng huyết áp phổi nghiêm trọng. Tăng huyết áp phổi là một rối loạ... hiện toàn bộ
#tăng huyết áp động mạch phổi #bất thường nội tạng bẩm sinh #điều trị #rối loạn hiếm gặp
Một mất đoạn 16q liên quan đến bộ tăng cường FOXF1 liên quan đến hemangiomatosis mao mạch phổi Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 16 - Trang 1-6 - 2015
Hemangiomatosis mao mạch phổi (PCH) là một rối loạn phổi không phổ biến, với các đặc điểm lâm sàng biến đổi tùy thuộc vào cấu trúc phổi nào bị ảnh hưởng, và thường liên quan đến tăng huyết áp động mạch phổi. PCH bẩm sinh đã được mô tả rất hiếm hoi và cho đến nay, gen gây bệnh duy nhất được xác định là EIF2AK4, gen này mã hóa cho một yếu tố khởi đầu phiên mã. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường... hiện toàn bộ
#hemangiomatosis mao mạch phổi #tăng huyết áp động mạch phổi #đột biến gen FOXF1 #gen gây bệnh bẩm sinh #phân tích di truyền
Nhắm vào Đường dẫn Prostacyclin bằng Selexipag ở Bệnh nhân Tăng huyết áp Động mạch Phổi Nhận được Liệu pháp Kết hợp Gấp đôi: Những Hiểu biết từ Nghiên cứu GRIPHON Có Kiểm soát Ngẫu nhiên Dịch bởi AI
American Journal of Cardiovascular Drugs - Tập 18 - Trang 37-47 - 2018
Trong tăng huyết áp động mạch phổi (PAH), liệu pháp kết hợp là một chiến lược điều trị quan trọng. Mặc dù có dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên hỗ trợ cho sự kết hợp của hai liệu pháp, nhưng dữ liệu liên quan đến liệu pháp kết hợp ba thì rất ít. Thử nghiệm GRIPHON giai đoạn III đã tuyển dụng 1156 bệnh nhân mắc PAH, trong đó có 376 bệnh nhân đang nhận liệu pháp kết hợp gấp đôi. Chúng tôi... hiện toàn bộ
Thromboxane thúc đẩy sự cam kết của kiểu hình cơ trơn nhưng không gây tái cấu trúc động mạch phổi ở trẻ sơ sinh trong tình trạng thiếu oxy Dịch bởi AI
Fibrogenesis & Tissue Repair - Tập 8 - Trang 1-13 - 2015
Tăng huyết áp phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh (PPHN) được đặc trưng bởi sự co mạch và tái cấu trúc mạch máu phổi. Tái cấu trúc được cho là phản ứng với các yếu tố kích thích vật lý hoặc hóa học, bao gồm các chất trung gian viêm tiền nguyên phân như thromboxane. Mục tiêu của chúng tôi là xem xét tác động của tình trạng thiếu oxy và tín hiệu thromboxane ex vivo và in vitro đối với sự cam kết kiểu hình, ... hiện toàn bộ
#tăng huyết áp phổi #thromboxane #tế bào cơ mạch #kiểu hình #thiếu oxy
Các khía cạnh lâm sàng của tăng huyết áp phổi ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống và ở bệnh nhân tăng huyết áp động mạch phổi vô căn Dịch bởi AI
Clinical Rheumatology - Tập 25 - Trang 866-872 - 2006
Các khía cạnh lâm sàng và bệnh lý của tăng huyết áp phổi (PH) ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống (SLE) đã được báo cáo là tương tự như ở bệnh nhân tăng huyết áp động mạch phổi vô căn (IPAH). Để xác định liệu PH ở những bệnh nhân này có tương tự hay không, chúng tôi đã so sánh các đặc điểm lâm sàng, huyết động học tại thời điểm chẩn đoán và tỷ lệ sống sót ở các nhóm bệnh nhân SLE–PH và IPAH. Chúng t... hiện toàn bộ
#tăng huyết áp phổi #lupus ban đỏ hệ thống #tăng huyết áp động mạch phổi vô căn #tiên lượng #sống sót
Tác động của liệu pháp áp lực dương liên tục lên huyết áp động mạch phổi ở bệnh nhân mắc ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn riêng biệt: một phân tích tổng hợp Dịch bởi AI
Heart Failure Reviews - Tập 21 - Trang 591-598 - 2016
Tăng huyết áp động mạch phổi (PH) có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (OSA) mà không có bệnh lý tim mạch hay phổi. Dữ liệu về sự phát triển và mức độ nghiêm trọng của PH, cũng như tác động của liệu pháp áp lực dương liên tục (CPAP) đến áp lực động mạch phổi (PA) ở những bệnh nhân này vẫn chưa thống nhất trong tài liệu hiện có. Chúng tôi đã tìm cách xác định liệu l... hiện toàn bộ
#Tăng huyết áp động mạch phổi #liệu pháp CPAP #ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn
Phân tích biến thể hiếm ở 4241 trường hợp tăng huyết áp động mạch phổi từ một liên minh quốc tế chỉ ra FBLN2, PDGFD và các biến thể de novo hiếm trong PAH Dịch bởi AI
Springer Science and Business Media LLC - Tập 13 - Trang 1-18 - 2021
Tăng huyết áp động mạch phổi (PAH) là một bệnh lý mạch máu nguy hiểm đặc trưng bởi sự tái cấu trúc bệnh lý của các động mạch phổi dẫn đến tăng áp lực phổi, phì đại tâm thất phải và suy tim. PAH có thể liên quan đến các bệnh khác (APAH: bệnh lý mô liên kết, bệnh tim bẩm sinh và các bệnh khác) nhưng thường thì nguyên nhân là không rõ ràng (IPAH). Các đột biến trong thụ thể protein hình thành xương 2... hiện toàn bộ
#tăng huyết áp động mạch phổi #biến thể hiếm #gen ứng viên #BMPR2 #FBLN2 #PDGFD #di truyền học
Các tế bào gốc trung mô chuyển gen let-7a làm giảm huyết áp phổi do monocrotaline gây ra bằng cách ức chế sự phát triển của tế bào cơ trơn động mạch phổi thông qua tín hiệu STAT3-BMPR2 Dịch bởi AI
Stem Cell Research & Therapy - Tập 8 - Trang 1-11 - 2017
Liệu pháp gen dựa trên tế bào đã trở thành một chủ đề được quan tâm cho việc điều trị tăng huyết áp động mạch phổi (PAH), một bệnh lý tàn phá đặc trưng bởi sự tăng sinh của tế bào cơ trơn động mạch phổi (PASMC). Các tế bào gốc trung mô (MSCs) gần đây được công nhận như một vector tế bào tiềm năng cho liệu pháp gen. Ở đây, chúng tôi đã nghiên cứu hiệu ứng của let-7a dựa trên MSC cho PAH. Sau khi tá... hiện toàn bộ
#tăng huyết áp động mạch phổi #tế bào gốc trung mô #let-7a #tín hiệu STAT3-BMPR2 #tăng sinh tế bào cơ trơn
Giảm độ bão hòa oxy não trong bài kiểm tra đi bộ 6 phút ở trẻ em mắc tăng huyết áp động mạch phổi Dịch bởi AI
Pediatric Cardiology - Tập 40 - Trang 1494-1502 - 2019
Nghiên cứu quan sát này nhằm điều tra mối quan hệ giữa độ bão hòa oxy não vùng (rSO2) trong bài kiểm tra đi bộ 6 phút (6-MWT) và các đặc điểm dịch tễ/tình trạng lâm sàng của bệnh nhân mắc tăng huyết áp động mạch phổi (PAH). Độ bão hòa oxy não được đánh giá trong quá trình thực hiện 6-MWT ở 20 bệnh nhân nhi mắc PAH từ 7 tuổi trở lên [13 nam, 7 nữ; tuổi trung vị 12,25 (khoảng từ 7 đến 18) năm]. Ở tấ... hiện toàn bộ
Tổng số: 13   
  • 1
  • 2